Trang

22.6.12

VIỆT NAM CÓ QUYỀN SỬ DỤNG CÁC BIỆN PHÁP VŨ LỰC, PHÒNG VỆ CHÍNH ĐÁNG KHI CẦN THIẾT


Đào Tuấn - Với 495/496 Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) bỏ phiếu tán thành, QH đã thông qua Luật Biển Việt Nam, với việc xác định chủ quyền các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa…được ghi ngay trong Điều 1.

Luật Biển chính là cơ sở pháp lý cao nhất cho việc đòi lại chủ quyền quần đảo Hoàng Sa đang bị Trung Quốc chiếm đóng trái phép, đồng thời sẽ là thứ "vũ khí pháp lý", để xử lý bằng các biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam đối với các cá nhân, tàu thuyền nước ngoài vi phạm.

Điều 3 của Luật ghi nhận rõ “biện pháp hòa bình” là nguyên tắc để giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia.

Theo báo cáo giải trình, việc ghi nhận nguyên tắc này, hoàn toàn không loại trừ quyền phòng vệ chính đáng của nước ta, bởi vì ngay trong Hiến chương Liên hợp quốc cũng thừa nhận quyền tự vệ chính đáng của cá nhân, hay tập thể khi thành viên của Liên hợp quốc bị tấn công vũ trang.

Trong khi đó, khoản 1 Điều 5 quy định việc thực hiện các biện pháp cần thiết (bao gồm cả quyền tự vệ chính đáng) nhằm bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của quốc gia trên các vùng biển, đảo và quần đảo, đã hàm ý Việt Nam có quyền sử dụng các biện pháp vũ lực, phòng vệ chính đáng khi cần thiết.

Luật Biển thừa nhận quyền qua lại của tàu thuyền nước ngoài trong lãnh hải Việt Nam, nhưng quy định rất cụ thể các hành vi bị coi là gây phương hại đến hòa bình, quốc phòng, an ninh của Việt Nam:

a) Đe dọa hoặc sử dụng vũ lực chống lại độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.

b) Đe dọa hoặc sử dụng vũ lực chống lại độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia khác; thực hiện các hành vi trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế được quy định trong Hiến chương Liên hợp quốc.

c) Luyện tập hay diễn tập với bất kỳ kiểu, loại vũ khí nào, dưới bất kỳ hình thức nào.

d) Thu thập thông tin gây thiệt hại cho quốc phòng, an ninh của Việt Nam.

đ) Tuyên truyền nhằm gây hại đến quốc phòng, an ninh của Việt Nam.

e) Phóng đi, tiếp nhận hay xếp phương tiện bay lên tàu thuyền.

g) Phóng đi, tiếp nhận hay xếp phương tiện quân sự lên tàu thuyền.

h) Bốc, dỡ hàng hóa, tiền bạc hay đưa người lên xuống tàu thuyền trái với quy định của pháp luật Việt Nam về hải quan, thuế, y tế hoặc xuất nhập cảnh.

i) Cố ý gây ô nhiễm nghiêm trọng môi trường biển.

k) Đánh bắt hải sản trái phép.

l) Nghiên cứu, điều tra, thăm dò trái phép.

m) Làm ảnh hưởng đến hoạt động của hệ thống thông tin liên lạc hoặc của thiết bị hay công trình khác của Việt Nam.

n) Tiến hành hoạt động khác không trực tiếp liên quan đến việc đi qua.

Theo Luật Biển, lực lượng tuần tra, kiểm soát trên biển có quyền truy đuổi tàu thuyền nước ngoài vi phạm các quy định của pháp luật Việt Nam, nếu các tàu thuyền này đang ở trong nội thủy, lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải Việt Nam.

Quyền truy đuổi được tiến hành sau khi lực lượng tuần tra, kiểm soát trên biển đã phát tín hiệu yêu cầu tàu thuyền vi phạm, hay có dấu hiệu vi phạm pháp luật dừng lại để tiến hành kiểm tra, nhưng tàu thuyền đó không chấp hành.

Việc truy đuổi có thể được tiếp tục ở ngoài ranh giới của lãnh hải, hay vùng tiếp giáp lãnh hải Viêt Nam, nếu được tiến hành liên tục, không ngắt quãng.

Quyền truy đuổi cũng được áp dụng đối với hành vi vi phạm quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia của Việt Nam, vi phạm trong phạm vi vành đai an toàn và trên các đảo nhân tạo, thiết bị, công trình trên biển trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam.

Việc QH thông qua Luật Biển Việt Nam là một động thái mạnh mẽ, cần thiết trong việc bảo vệ chủ quyền biển, đảo.

Điểm đáng lưu ý nhất là dù các phiên thảo luận Luật Biển là thảo luận kín.

Nhưng đến hôm qua, báo chí đã có quyền tiếp cận toàn bộ Bộ Luật này.

Nhưng đến hôm qua, báo chí đã có quyền tiếp cận toàn bộ Bộ Luật này.

0 comments:

Đăng nhận xét